Tỷ lệ thất nghiệp tính chung cho lực lượng lao động ở nước ta trong thời gian qua là thấp. Số liệu bảng 1 cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp chung này năm 2003 là 2,25%, 3 năm tiếp theo có xu hướng giảm đi nhưng không dáng kể, và đến năm 2007 tăng lên 2,52%.
Sở dĩ tỷ lệ thất nghiệp chung của lực lượng lao động thấp, là do nước ta có tới khoảng 76% lực lượng lao động làm việc ở nông thôn. Phần lớn họ là nông dân và các hộ lao động cá thể nhỏ, nên hầu như ít có khả năng xảy ra thất nghiệp. Còn lại chỉ có khoảng 17% lao động làm việc trong khu vực làm công ăn lương là có khả năng xảy ra thất nghiệp. Chính vì vậy, xét về tỷ lệ thất nghiệp tính riêng cho khu vực thành thị và nông thôn, số liệu bảng 2 cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị cao hơn nhiều so với tỷ lệ thất nghiệp ở nông thôn.
Năm 2003 tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị là 5,78%, trong khi tỷ lệ thất nghiệp ở nông thôn chỉ là 1,2%. Tuy nhiên, có một thực tế là, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị trong những năm gần đây đang có xu hướng giảm đi, còn tỷ lệ thất nghiệp ở nông thôn có xu hướng tăng lên. Năm 2007 tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm xuống còn 4,64%, tỷ lệ thất nghiệp ở nông thôn tăng lên 1,65%. Thực tế này cho thấy, hiện nay và trong những năm tới nước ta cần phải quan tâm đến cả tình trạng thất nghiệp ở nông thôn.
Xét tỷ lệ thất nghiệp phân theo giới tính, số liệu bảng 3 cho thấy, mặc dù nam chiếm tỷ lệ lớn hơn nữ trong cơ cấu lao động phân theo giới tính, nhưng tỷ lệ thất nghiệp của nữ lại cao hơn nam. Năm 2003 tỷ lệ thất nghiệp của nữ là 2,63%, trong khi của nam chỉ là 1,88%. Những năm sau tỷ lệ thất nghiệp của lao động nam đã tăng lên, năm 2007 là 2,44% gần bằng tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ 2,61%.
Tình hình thất nghiệp ở Việt Nam, nếu xem xét trên tiêu chí độ tuổi, số liệu bảng 4 cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp cao nhất là ở hai độ tuổi: từ 15 đến 19 tuổi và từ 20 đến 24 tuổi. Sở dĩ lứa tuổi này có tỷ lệ thất nghiệp cao, vì rơi vào giai đoạn học sinh mới tốt nghiệp trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông hoặc các trường dạy nghề, cao đẳng hay đại học mà chưa tìm được việc làm ngay.
Theo kết quả điều tra độc lập do nhóm nghiên cứu đề tài “Tổ chức BHTN ở Việt Nam theo Luật BHXH” (Khoa Bảo hiểm - Trường Đại học Kinh tế quốc dân) thực hiện, số liệu bảng 4 cho thấy, những người lao động thuộc thế hệ trước (từ 41 tuổi trở lên) ít bị thất nghiệp hơn so với những người lao động trẻ thuộc các thế hệ gần đây (từ 40 tuổi trở xuống). Điều này phần nào cho thấy khi nước ta sang nền kinh tế thị trường, thị trường lao động phát triển tự do hơn theo quy luật cung cầu, dẫn đến tình trạng thất nghiệp diễn ra phổ biến hơn.
Kết quả điều tra này cũng tương đồng với kết quả điều tra của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về lao động việc làm. Theo điều tra của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, lao động năm 2006 thất nghiệp chưa bao giờ làm việc và chưa tìm được việc làm chiếm cơ cấu 68,61 %, còn lao động thất nghiệp đã từng làm việc và mất việc chỉ chiếm 31,39%. Kết quả điều tra của nhóm nghiên cứu đề tài về thời gian thất nghiệp (bảng 4) còn cho thấy, mặc dù lứa tuổi từ 24 trở xuống có tỷ lệ thất nghiệp cao, nhưng thời gian thất nghiệp của họ phần lớn dưới 6 tháng (chiếm 93,75% số người điều tra ở độ tuổi dưới 24). Nhóm tuổi này có tỷ lệ thất nghiệp cao, do họ là học sinh hay sinh viên vừa mới tốt nghiệp, chưa tìm được việc làm ngay. Tuy nhiên, thời gian đe họ tìm việc thường trong khoảng 6 tháng. Thời gian tìm việc của các nhóm tuổi lớn hơn có xu hướng kéo dài hơn. Thời gian thất nghiệp dưới 6 tháng của độ tuổi từ 25 đến 40 chiếm 56,82% số người được điều tra trong độ tuổi đã từng bị thất nghiệp. Con số này ở độ tuổi từ 41 trở lên là 59,09%.
Xét tình hình thất nghiệp theo trình độ học vấn, số liệu bảng 6 cho thấy, thất nghiệp chủ yếu xảy ra với đối tượng học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông chiếm 46,67%. Điều này là hợp lý khi xét tình trạng thất nghiệp theo độ tuổi ở bảng 7 và lao động có trình độ tốt nghiệp trung học nghiệp cao nhất 5,97%. Do có trình độ học vấn thấp, nên khả năng tìm việc khó và khả năng mất việc cao của lao động chưa biết chữ và chưa tốt nghiệp tiểu học là tất yếu.
Xét tình hình thất nghiệp theo trình độ chuyên môn kỹ thuật, số liệu bảng 8 cho thấy, lao động chưa qua đào tạo có cơ cấu chiếm tới 63,93%, tiếp đến là lao động đã qua đào tạo nghề 15,55%, lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên 12,31% và lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp 8,2%. Lao động chưa qua đào tạo cũng có tỷ lệ thất nghiệp cao 7,91%, chiếm vị trí thứ hai, do thiếu kỹ năng lao động. Lao động đã qua đào tạo nghề và tương đương có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất 2,52%. Điều này phản ánh đúng thực tế nước ta hiện nay đang rất cần lao động là công nhân kỹ thuật lành nghề; trong khi lại đào tạo thừa cấp trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học. Tình trạng sinh viên tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, thậm chí đại học đi làm các công việc giản đơn, không cần đào tạo là phổ biến. Đây chính là tình trạng “thừa thầy thiếu thợ” ở nước ta trong những năm qua.
Theo kết quả điều tra của nhóm nghiên cứu đề tài về nguyên nhân thất nghiệp, số liệu bảng 9 cho thấy, ở độ tuổi dưới 24 có 40,63%, độ tuổi từ 25 đến 40 có tới 53,96% và độ tuổi từ 41 trở lên có31,82% người lao động đã từng nghỉ việc để đi tìm việc khác tốt hơn. Con số này cho thấy: một là, lao động trẻ mới tốt nghiệp ra trường thường không tìm được việc làm phù hợp và lâu dài nên phải làm những công việc tạm thời, khi có điều kiện họ sẵn sàng nghỉ việc để đi tìm việc làm mới tốt hơn và phù hợp hơn. Hai là, sự tự do hoá thị trường lao động tạo nhiều cơ hội hơn cho người lao động để tìm việc mới tốt hơn. Đây có thể coi là trường hợp thất nghiệp tự nguyện và khi Việt Nam triển khai BHTN cần được xem xét có thuộc diện được hưởng trợ cấp hay không. Điều đáng lưu ý nữa là, đối với người lao động thuộc độ tuổi từ 41 trở lên, thất nghiệp do doanh nghiệp giải thể và bị sa thải chiếm cơ cấu khá cao là 13,63% và 22,73%. Đây là những người lao động đã có quá trình làm việc lâu năm, chủ yếu là làm ỏ các doanh nghiệp nha nước bị giải thể hoặc thu hẹp quy mô sản xuất kinh doanh dẫn đến mất việc. Nhóm đối tượng này rất cần sự hỗ trợ từ phía nhà nước để khắc phục những khó khăn do thất nghiệp gây ra cho họ và gia đình.
Như vậy, có thể nói tình trạng thất nghiệp trong những năm qua ở Việt Nam nếu tính chung cho cả nước là ở mức thấp. Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị và tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực nông thôn cao nếu quy về một tỷ lệ chung thì tỷ lệ thất nghiệp cả nước là ở mức cao hơn nhiều. Ngoài ra, sự tự do hoá của thị trường lao động đang làm cho tình trạng thất nghiệp diễn ra phổ biến hơn, đặc biệt với thế hệ trẻ. Chính vì vậy, việc nhanh chóng triển khai BHTN ở nước ta theo Luật BHXH là cần thiết.
Theo Luật BHXH, BHTN bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009. Để chính sách BHTN nhanh chóng đi vào cuộc sống và được thực hiện có hiệu quả, bên cạnh việc ban hành các văn bản hướng dẫn thực thi chính sách BHTN, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chính sách BHTN, nhằm nâng cao nhận thức cho nguời lao động và người sử dụng lao động. Nếu làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền thì người dân sẽ nhanh chóng hiểu được mục đích, ý nghĩa và vai trò của BHTN, từ đó họ sẽ tự giác tham gia... BHTN đã được nhiều nước trên thế giới triển khai, song đối với nước ta là hoàn toàn mới mẻ. Bởi vậy, cần căn cứ vào đặc điểm cụ thể của nước ta cũng như kết hợp với việc học tập kinh nghiệm các nước để hoàn thiện chính sách BHTN trong quá trình triển khai là hết sức cần thiết. Do tính nhân đạo và nhân văn vốn có của mình, hy vọng rằng chính sách BHTN sẽ sớm đi vào cuộc sống để góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
T.H (nguồn TCBHXH)